Thế là tiếng nói oang oang, tiếng
cười sảng khoái của anh Trần Quang Cơ đã tắt! Tôi trộm nghĩ mình không nhầm nếu
nói rằng, toàn thể anh chị em cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao, nhất là những
người đã từng cộng sự trực tiếp đều tiếc thương vô hạn vì trong tâm chí mọi người
Anh là một nhà ngoại giao cực kỳ sắc sảo và kiên định, một con người hết sức khảng
khái và tự trọng, một nhà lãnh đạo mẫu mực, công tâm.
Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015
CHUYỆN HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Kim Dung
Năm nào cũng vậy, cứ sau ngày
cúng “ông Táo” lên chầu trời, ban lãnh
đạo cơ quan lại tổ chức mời cán bộ hưu trí đến họp mặt cuối năm và có quà mừng
năm mới. Mọi người tập trung tại hội trường, lâu ngày gặp nhau chuyện trò hàn
huyên vui vẻ.
Chị Miên đến sau, đi cùng chồng là
anh Thái. Nhìn anh chị không ai bảo ai chúng tôi đều cất lời khen: “Hai bác
trông đẹp đôi, hạnh phúc quá. Thật là viên mãn”. Được mọi người khen, chị Miên
cảm động lắm, cảm ơn mọi người và nói: “Nhờ có nhà tôi đấy, các bà, các bác
ạ!”.
Tôi nhớ lúc còn đang công tác cùng
chị, có lần chị tâm sự với tôi một chuyện buồn xảy ra cách đây đã gần 40 năm,
khi ấy chị chừng 35, 36 tuổi.
Một buổi trưa hai chị em ăn cơm xong,
nằm nghỉ, chị thủ thỉ với tôi: “ Mình là người con gái quê hương quan họ Bắc
Ninh, Dung à. Năm mình 18 tuổi, có một lần đoàn văn công quân đội về quê mình
biểu diễn văn nghệ phục vụ đơn vị đóng quân ở đó và bà con quanh vùng. Mình và
một vài người bạn rủ nhau đi xem các anh, các chị văn công dựng rạp. Mấy cô bạn
mình khoe với các anh bộ đội: “ Cái Miên
làng em là con gái đẹp nhất vùng này đấy, nó lại hát hay nữa chứ…” Anh Hùng,
trưởng đoàn đứng gần đó nghe được, đến cạnh mình hỏi thăm địa chỉ gia đình. Đợt
biểu diễn xong, anh đến nhà mình chơi và yêu cầu mình hát cho anh nghe vài bài.
Nghe xong anh hỏi:
-
Cô
Miên có thích đi văn công không?
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Lại bàn về dân trí
Nguyễn Quang Dy
Người ta nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân
trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi
“quan trí” lại thấp,cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh), người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”. Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng
một vấn đề. Nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.
Hãy điểm qua vài hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở
đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ xung thêm).
Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những
người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu
bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?
Người ta nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân
trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi
“quan trí” lại thấp,cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh), người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”. Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng
một vấn đề. Nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.
Hãy điểm qua vài hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở
đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ xung thêm).
Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những
người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu
bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?
Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015
NGUYỄN ÁI QUỐC / HỒ CHÍ MINH VỚI NƯỚC ĐỨC
Trần Ngọc Quyên
Năm 2015 Việt Nam và nuốc
Đức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay từ những
năm 20 của thế kỷ trước Nguyễn Ái Quốc đã từng đến nước Đức, gặp gỡ nhiều người
Đức ở cả nước Đức lẫn ở nước ngoài như Paris, Mátxcơva; từ những người dân
thường đến các Lãnh tụ nổi tiếng của Đáng Cộng sản lẫn phong trào công nhân
Đức. Có thể nói Nguyễn Ái Quốc là người đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu
nghị giữa nhân dân Đức và Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Đức chúng tôi xin giới thiệu với Bạn đọc bài dưới đây của một người
đã từng học tập và công tác trên 20 năm ở cả hai miền của nước Đức và đã dày
công sưu tầm các tư liệu về Nguyễn Ái Quốc/Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Đức.
Như chúng ta đều biết, trong
những năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước từ năm 1911 đến
năm 1941 Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh đã từng đến nước Đức để hoạt động cách
mạng bí mật, đó là vào các năm 1923 và 1927/28. Năm 1957 với tư cách Chủ tịch
Đảng Lao động Việt Nam - Chủ tịch nước VNDCCH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm
chính thức CHDC Đức.
Hoạt động
bí mật tại nước Đức trong những năm 20 của thế kỷ XX
Thật ra trước năm 1923 Người cũng đã 2 lần đến Đức: lần đầu khoảng cuối tháng 10 năm 1919 cùng với Luật sư Phan
Văn Trường trong đó có việc liên hệ mua vật tư ngành ảnh của hãng AGFA cho hiệu
ảnh Khánh Ký khi Người làm thuê cho hiệu ảnh này (AGFA là công ty con của tập
đoàn Bayer AG ở Leverkusen ở Tây Đức). Lần
thứ hai Nguyễn Ái Quốc đến Đức năm 1920 khi Người tham gia đoàn du lịch của
Hội du lịch Pháp. Như vậy có thể nói lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đặt chân lên
nước Đức là năm 1919 và những người Đức đầu tiên Người giao dịch khi làm thuê
cho hiệu ảnh Khánh Ký là các nhân viên Đại diện cho công ty AGFA của Đức tại
Paris.
Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015
Hệ quả chiến tranh.
Nguyễn Quang Dy
Nguyên cán bộ Ngoại giao, tốt nghiệp Harvard năm 1993
Bài đã đăng trên Viet-studies 30/4 (bản tiếng Việt, bản tiếng Anh cũng của tác giả).
“Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, nên cơ chế bảo vệ hòa bình phải được xây
dựng ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)
Câu chuyện hòa giải
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, với độc tài và tham nhũng.
Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam cũng đã hòa giải được với nhau, bình thường
hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, tuy bóng ma chiến tranh
Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước. Ngày nay, hai nước thậm
chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lượctoàn diện, trướcsự trỗi dậy đầy thách thức của
Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.
Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải, vẫn còn đối xử với nhau như “kẻ thù”. Có
lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải mất 50 năm
mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (kết thúctạiGettysburgnăm 1863). Liệu người Việt
phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam làm sao đủ
mạnh để bảo vệđộc lập và chủ quyền của mìnhkhỏi nguy cơ bắc thuộc?
Nguyên cán bộ Ngoại giao, tốt nghiệp Harvard năm 1993
Bài đã đăng trên Viet-studies 30/4 (bản tiếng Việt, bản tiếng Anh cũng của tác giả).
“Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, nên cơ chế bảo vệ hòa bình phải được xây
dựng ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)
Câu chuyện hòa giải
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, với độc tài và tham nhũng.
Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam cũng đã hòa giải được với nhau, bình thường
hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, tuy bóng ma chiến tranh
Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước. Ngày nay, hai nước thậm
chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lượctoàn diện, trướcsự trỗi dậy đầy thách thức của
Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.
Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải, vẫn còn đối xử với nhau như “kẻ thù”. Có
lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải mất 50 năm
mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (kết thúctạiGettysburgnăm 1863). Liệu người Việt
phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam làm sao đủ
mạnh để bảo vệđộc lập và chủ quyền của mìnhkhỏi nguy cơ bắc thuộc?
Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015
Những kỷ niệm không phai mờ
Nguyễn Đình Bin
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UBVNVNONN.
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UBVNVNONN.
Trong hơn bốn mươi năm công tác
tại ngành ngoại giao, một trong những vinh hạnh lớn nhất của tôi là đã được kề
vai sát cánh với đội ngũ cán bộ, nhân viên UBVNVNONN, cơ quan tham mưu và quản
lý của Đảng và Nhà nước ta về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài, trên cương vị là người đứng đầu,
trong giai đoạn rất đáng ghi nhớ: 4 năm mở màn thiên niên kỷ thứ ba (2000 -
2003).
Bốn năm là một quãng thời gian
không dài trên chặng đường nửa thế kỷ từ khi ra đời đến nay của Ban VK TƯ, rồi
UBVNVNONN và nay là UBNNVNVNONN, nhưng
đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể phai mờ và bài học quý. Đó là những năm tháng công cuộc đổi mới toàn
diện của nhân dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được
triển khai mạnh mẽ và toàn diện, giữa
một thế giới đang biến động sâu sắc, đan xen những thời cơ lớn với thách thức
cũng lớn. Trên bình diện chủ quan thì UBVNVNONN, qua 40 năm hoạt động và phát triển và sau 4 năm Thủ tướng Chính phủ quyết
định sát nhập vào Bộ Ngọai giao, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và có thêm điều kiện để có những
bước phát triển mới về chất.
Hôm nay, nhìn lại quãng thời gian
ấy, tôi vui mừng là đã cùng tập thể cán bộ nhân viên UBVNVNONN tăng cường đoàn
kết, không ngừng phấn đấu vươn lên, kế thừa và phát huy được những kinh nghiêm quý báu của các lớp anh, chị đi
trước, đồng thời đã tự đổi mới được mình, trước hết là đổi mới tư duy, phát huy
mạnh mẽ bản lĩnh, tinh thần chủ động, tiến công, dám chịu trách nhiệm, đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ tham mưu và quản lý mà Đảng và Nhà nước giao phó trên lĩnh
vực công tác này, có những đóng góp xứng đáng vào các thành tích đáng tự hào
trong 50 năm phát triển của UBNNVNVNONN.
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015
Thơ Nguyễn Quang Khuê
Trong một buổi cà phê sáng, chúng tôi ngồi với anh Nguyễn Quang Khuê, một "Đại ca" trong mắt của nhiều người lớp trẻ bởi sức vóc cũng như tầm trí tuệ của con người đã ngoài bẩy mươi mùa xuân xanh ấy. Trong khói thuốc lá, anh đã đọc cho chúng tôi nghe một số bài thơ anh làm cách đây ít lâu, những bài thơ thật hay.
Xin giới thiệu với bạn bè xa gần những bài thơ thật hay này của anh Nguyễn Quang Khuê.
Tự do
Cánh chim trong lồng tưởng nhớ trời xanh,
Mỏi cánh trời xanh mong về tổ ấm.
Giữa tổ ấm đối mặt với đói no bộn bề chuyện sống,
Chim lại mơ trời xanh tự do!
Này, tự do làm chi có bến bờ?
Khi dây nhợ trới trằng trong lòng ta dăng sẵn,
Oan cái lồng con sinh ra căm hờn muốn phá nó,
Thì cái lồng to trời xanh kia ta biết phá sao đây?
Quanh quẩn lo toan ngày tháng hao gầy,
Thấp thoáng trăm năm nỗi buồn vạn thưở.
Việc quái gì phải băn khoăn đi hay ở lồng với chả lồng,
Hãy trả tự do ngay cho những sợi dây trói trong lòng,
Ta sẽ được bay liệng giữa muôn nơi tức khắc!
Cày ruộng làm thơ làm dân làm vua gì mà chẳng được,
Trăm năm trong chớp mắt hay chớp mắt ngoài muôn năm?
Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015
Hoàng Xuân Hãn bàn chuyện đi sứ
Hoàng Yến Lưu
(Sưu tầm trên mạng)
Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.
Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý Thường Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
“Tiên lễ hậu binh”nên trong ngoại giao cần nhất vai trò của sứ giả. Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý Thờng Kiệt kể chuyện sứ giả đại diện cho vua Lý lא Đào Tông Nguyên theo lệnh vua nước ta, vào năm 1078 sang sứ Tống, mượn cớ cống voi nhưng chủ tâm đòi lại châu Quảng Nguyên, vốn đất ta mà bọn Quách Quỳ chiếm đoạt. Ta lấy lại được Quảng Nguyên nhờ có vua hiền, tôi giỏi, lại thêm sứ giả tài ba nên Tống Thần Tông biết khó nuốt châu quận của đất Việt phải cắn răng trả Quảng Nguyên cho phương Nam. Người sau mai mỉa vua tôi nhà Tống trong sự kiện ngoại giao này:
(Sưu tầm trên mạng)
Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.
Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý Thường Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
“Tiên lễ hậu binh”nên trong ngoại giao cần nhất vai trò của sứ giả. Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý Thờng Kiệt kể chuyện sứ giả đại diện cho vua Lý lא Đào Tông Nguyên theo lệnh vua nước ta, vào năm 1078 sang sứ Tống, mượn cớ cống voi nhưng chủ tâm đòi lại châu Quảng Nguyên, vốn đất ta mà bọn Quách Quỳ chiếm đoạt. Ta lấy lại được Quảng Nguyên nhờ có vua hiền, tôi giỏi, lại thêm sứ giả tài ba nên Tống Thần Tông biết khó nuốt châu quận của đất Việt phải cắn răng trả Quảng Nguyên cho phương Nam. Người sau mai mỉa vua tôi nhà Tống trong sự kiện ngoại giao này:
Nhân tham Giao chỉ tượng
Khước thất Quảng nguyên kim.
(Vì tham voi giao chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên)
Khước thất Quảng nguyên kim.
(Vì tham voi giao chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên)
Hoàng Xuân Hãn luôn luôn ca tụng chính sách ngoại giao và bảo vệ giang sơn của tổ tiên chúng ta :
Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015
Mừng anh 50 tuổi Đảng
Nguyễn Hữu Động (Viết từ Mê-hi-cô)
Hôm ấy, máy
bay tôi đến New York chậm hỏn một tiếng. Làm xong thủ tục xuất cảnh thì đā một giờ sáng. Anh
và mấy anh em
khác đứng chờ tôi ở cổng ra. Anh bỏ điếu thuốc đang hút, chào tôi và nói:
"Thành phố này về khuya không an toàn lắm, và quan hệ với chủ nhà cũng khá
phức tạp nên chúng tôi phải đưa cả
một tiểu đội ra đón anh." Mười năm sau, khi tôi đến ở đấy, NY đā trở
thành một trong những thành phố
an toàn nhất thế giới.
Về đến trung
cư, tôi được xếp vào cùng buồng với anh, không biết
vì lý do tuổi tác (chúng tôi xấp xỉ tuổi nhau) hay vì lý do gì
khác. Trong những năm ấy, bao trùm vẫn là chế độ bao cấp, từ
ăn đến mặc. Mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào tiêu chuẩn. Riêng tôi
thì rất dốt cái món này: cho ăn gì thì ăn nấy, cho ở
đâu thì ở đấy, cho bao nhiêu tiền thi
tiêu bấy nhiêu.
Nói cho đúng, năm 1980, cán bộ ở NY được phát từ 1,50 cho đến 2đô la
/ ngày cũng tuỳ theo tiêu chuẩn, gọi là Daily Allowance Subsistence
(Xin miễn dịch vì từ Subsistence này chính xác quá) Cơm ngày ba bữa ở cơ quan,
cà fê, thuốc lá thì nhịn, hoặc trong trường hợp tôi, bà xã phụ
cấp. Cán bộ đi công tác nước ngoài phải đến Bộ tài
chính mượn giầy và côm lê, khi về phải trả lại.
Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015
Lời kêu gọi 1 tháng Tư
Hãy biến hôm nay 1 tháng Tư thành ngày nói thật
Bởi quanh năm dối đã quá nhiều rồi
Thiên hạ thật thà nên cần một chút dối đùa chơi
Còn ta dối mãi rồi, không nên dối rồi lại dối.
Bởi quanh năm dối đã quá nhiều rồi
Thiên hạ thật thà nên cần một chút dối đùa chơi
Còn ta dối mãi rồi, không nên dối rồi lại dối.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)