Thứ Năm, ngày 07 tháng 5 năm 2015

Hệ quả chiến tranh.

Nguyễn Quang Dy
Nguyên cán bộ Ngoại giao, tốt nghiệp Harvard năm 1993
Bài đã đăng trên Viet-studies 30/4 (bản tiếng Việt, bản tiếng Anh cũng của tác giả).


 “Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, nên cơ chế bảo vệ hòa bình phải được xây
dựng ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)
Câu chuyện hòa giải
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, với độc tài và tham nhũng.
Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam cũng đã hòa giải được với nhau, bình thường
hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, tuy bóng ma chiến tranh
Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước. Ngày nay, hai nước thậm
chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lượctoàn diện, trướcsự trỗi dậy đầy thách thức của
Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.
Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải, vẫn còn đối xử với nhau như “kẻ thù”. Có
lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải mất 50 năm
mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (kết thúctạiGettysburgnăm 1863). Liệu người Việt
phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam làm sao đủ
mạnh để bảo vệđộc lập và chủ quyền của mìnhkhỏi nguy cơ bắc thuộc?

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 5 năm 2015

Những kỷ niệm không phai mờ

Nguyễn Đình Bin
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UBVNVNONN.



Trong hơn bốn mươi năm công tác tại ngành ngoại giao, một trong những vinh hạnh lớn nhất của tôi là đã được kề vai sát cánh với đội ngũ cán bộ, nhân viên UBVNVNONN, cơ quan tham mưu và quản lý của Đảng và Nhà nước ta về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài,  trên cương vị là người đứng đầu, trong giai đoạn rất đáng ghi nhớ: 4 năm mở màn thiên niên kỷ thứ ba (2000 - 2003).
Bốn năm là một quãng thời gian không dài trên chặng đường nửa thế kỷ từ khi ra đời đến nay của Ban VK TƯ, rồi UBVNVNONN  và nay là UBNNVNVNONN, nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể phai mờ và bài học quý.  Đó là những năm tháng công cuộc đổi mới toàn diện của nhân dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được triển khai mạnh mẽ và toàn diện,  giữa một thế giới đang biến động sâu sắc, đan xen những thời cơ lớn với thách thức cũng lớn. Trên bình diện chủ quan thì UBVNVNONN, qua 40 năm  hoạt động và phát triển và sau 4 năm Thủ tướng Chính phủ quyết định sát nhập vào Bộ Ngọai giao, đã tích lũy được nhiều kinh  nghiệm quý báu và có thêm điều kiện để có những bước phát triển mới về chất.
Hôm nay, nhìn lại quãng thời gian ấy, tôi vui mừng là đã cùng tập thể cán bộ nhân viên UBVNVNONN tăng cường đoàn kết, không ngừng phấn đấu vươn lên, kế thừa và phát huy được những  kinh nghiêm quý báu của các lớp anh, chị đi trước, đồng thời đã tự đổi mới được mình, trước hết là đổi mới tư duy, phát huy mạnh mẽ bản lĩnh, tinh thần chủ động, tiến công, dám chịu trách nhiệm, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu và quản lý mà Đảng và Nhà nước giao phó trên lĩnh vực công tác này, có những đóng góp xứng đáng vào các thành tích đáng tự hào trong 50 năm phát triển của UBNNVNVNONN. 

Thứ Tư, ngày 29 tháng 4 năm 2015

Thơ Nguyễn Quang Khuê

Trong một buổi cà phê sáng, chúng tôi ngồi với anh Nguyễn Quang Khuê, một "Đại ca" trong mắt của nhiều người lớp trẻ bởi sức vóc cũng như tầm trí tuệ của con người đã ngoài bẩy mươi mùa xuân xanh ấy. Trong khói thuốc lá, anh đã đọc cho chúng tôi nghe một số bài thơ anh làm cách đây ít lâu, những bài thơ thật hay. 
Xin giới thiệu với bạn bè xa gần những bài thơ thật hay này của anh Nguyễn Quang Khuê.


Tự do

Cánh chim trong lồng tưởng nhớ trời xanh,
Mỏi cánh trời xanh mong về tổ ấm.
Giữa tổ ấm đối mặt với đói no bộn bề chuyện sống,
Chim lại mơ trời xanh tự do!
Này, tự do làm chi có bến bờ?
Khi dây nhợ trới trằng trong lòng ta dăng sẵn,
Oan cái lồng con sinh ra căm hờn muốn phá nó,
Thì cái lồng to trời xanh kia ta biết phá sao đây?
Quanh quẩn lo toan ngày tháng hao gầy,
Thấp thoáng trăm năm nỗi buồn vạn thưở.
Việc quái gì phải băn khoăn đi hay ở lồng với chả lồng,
Hãy trả tự do ngay cho những sợi dây trói trong lòng,
Ta sẽ được bay liệng giữa muôn nơi tức khắc!
Cày ruộng làm thơ làm dân làm vua gì mà chẳng được,
Trăm năm trong chớp mắt hay chớp mắt ngoài muôn năm?

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2015

Hoàng Xuân Hãn bàn chuyện đi sứ

Hoàng Yến Lưu
(Sưu tầm trên mạng)
Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.
Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý‎ Thư‎ờng Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
“Tiên lễ hậu binh”nên trong ngoại giao cần nhất vai trò của sứ giả. Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý‎ Th‎ờng Kiệt kể chuyện sứ giả đại diện cho vua Lý‎ lא Đào Tông Nguyên theo lệnh vua nước ta, vào năm 1078 sang sứ Tống, mượn cớ cống voi nhưng chủ tâm đòi lại châu Quảng Nguyên, vốn đất ta mà bọn Quách Quỳ chiếm đoạt. Ta lấy lại được Quảng Nguyên nhờ có vua hiền, tôi giỏi, lại thêm sứ giả tài ba nên Tống Thần Tông biết khó nuốt châu quận của đất Việt phải cắn răng trả Quảng Nguyên cho phương Nam. Người sau mai mỉa vua tôi nhà Tống trong sự kiện ngoại giao này:

Nhân tham Giao chỉ tượng
Khước thất Quảng nguyên kim.
(Vì tham voi giao chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên)
Hoàng Xuân Hãn luôn luôn ca tụng chính sách ngoại giao và bảo vệ giang sơn của tổ tiên chúng ta :

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 4 năm 2015

Mừng anh 50 tuổi Đảng

Nguyễn Hữu Động (Viết từ Mê-hi-cô)



Hôm ấy, máy bay tôi đến New York chậm hỏn một tiếng. Làm xong thủ tục xuất cảnh thì đā một giờ sáng. Anh và mấy anh em khác đứng chờ tôi ở cổng ra. Anh bỏ điếu thuốc đang hút, chào tôi và nói: "Thành phố này về khuya không an toàn lắm, và quan hệ với chủ nhà cũng khá phức tạp nên chúng tôi phải đưa cả một tiểu đội ra đón anh." Mười năm sau, khi tôi đến ở đấy, NY đā trở thành một trong những thành phố an toàn nhất thế giới.


Về đến  trung cư, tôi được xếp vào cùng buồng  với anh, không biết vì lý do tuổi tác (chúng tôi xấp xỉ tuổi nhau) hay vì lý do gì khác. Trong những năm ấy, bao trùm vẫn là chế độ bao cấp, từ ăn đến mặc. Mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào tiêu chuẩn. Riêng tôi thì rất dốt cái món này: cho ăn gì thì ăn nấy, cho ở đâu thì ở đấy, cho bao nhiêu tiền thi tiêu bấy nhiêu. Nói cho đúng, năm 1980, cán bộ ở NY được phát từ 1,50 cho đến 2đô la / ngày cũng tuỳ theo tiêu chuẩn, gọi là Daily Allowance Subsistence (Xin miễn dịch vì từ Subsistence này chính xác quá) Cơm ngày ba bữa ở cơ quan, cà fê, thuốc lá thì nhịn,  hoặc trong trường hợp tôi,  bà xã phụ cấp. Cán bộ đi công tác nước ngoài phải đến Bộ tài chính mượn giầy và côm lê, khi về phải trả lại. 

Thứ Tư, ngày 01 tháng 4 năm 2015

Lời kêu gọi 1 tháng Tư

Hãy biến hôm nay 1 tháng Tư thành ngày nói thật
Bởi quanh năm dối đã quá nhiều rồi
Thiên hạ thật thà nên cần một chút dối đùa chơi
Còn ta dối mãi rồi, không nên dối rồi lại dối.

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 3 năm 2015

Biết-Không biết

 Biết mình không biết tải ảnh hoa lên mừng chị em bạn nhân ngày 8/3, lướt trên mạng vô tình thấy bài thơ "Biết-Không biết" của tác giả Lê Thống Nhất, bèn cóp về mời chị em bạn đọc cho vui, không biết chị em có biết tình cảm giản dị này mà vui hay không !

Có thể bên cạnh em
Có một người đàn ông như thế
Không biết tặng em mỹ phẩm để em ưa
Không biết nói lời hay mà người khác dư thừa
Không biết chọn cả loại hoa đắt tiền mà người mua cũng rùng mình một chút

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 2 năm 2015

Ngày Tết kể chuyện thật ngắn.

 Rất nhiều bạn bè trong chúng ta đã từng quen biết và có dịp làm việc với anh Nguyễn Hữu Động, một Việt kiều tại Pháp, người rất nhiệt huyết với đất nước từ thời Hiệp định Paris,được cố Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch tin dùng và có nhiều đóng góp cho việc hiểu biết về kinh tế thị trường trong những ngày đầu Việt Nam hội nhập. Anh cũng là Việt kiều đầu tiên được ta giới thiệu vào làm việc tại ESCAP theo quota của Việt Nam với chức Director. Từ khi về hưu, năm nào anh Động cũng cùng vợ cố gắng về Việt Nam một lần, thăm quê hương, gặp gỡ bạn bè chí cốt.
Anh Nguyễn Hữu Động hay viết, kể những chuyện ngắn, xúc tích mà giàu ý nghĩa. Nhân ngày Tết, được sự đồng ý của anh Nguyễn Hữu Động, Lều Văn xin giới thiệu với bạn bè mấy câu chuyện ngoại giao thật ngắn của anh Nguyễn Hữu Động.



Ngoại giao Mỹ :

 Năm ấy tôi đang làm việc tại Haiti. Một tối, ông đại sứ Mỹ mời cơm. Chung quanh bàn, ngoài hai vị chủ nhà, có hai dân biểu Mỹ và ông chỉ huy trưởng quân Mỹ, trước đã ở Sàigon. Ông đại sứ nâng cốc : “ Trước hết xin chào hai ngài dân biểu. Nhưng bữa tiệc hôm nay, cho tôi dành cho ông bạn Việt Nam của chúng ta. Ngày mai, tổng thống Clinton sẽ tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Trước đây chúng ta đã là bạn. Ngày mai, đất nước chúng ta cũng sẽ là bạn. Xin chúc mừng tất cả.”

Ngoại giao Việt Nam :

 Ông bạn tôi làm tại phòng lãnh sự tại Washington cuối những năm 90. Một hôm phỏng vấn một người đến xin visa.

– Ông đã từng ở Việt Nam ?

– Dạ có và không. Số là tôi thuộc hạm đội 7. Trong nhiều tháng tôi bay vào Việt Nam để thả bom, nhưng chưa bao giờ vào đất liền.

– Vậy ông thả bom ở đâu và trong thời gian nào ?

– Chiến trường Quảng Trị, mùa Xuân năm 1972.
Nhà ngoại giao Việt Nam đứng dậy chìa tay :

– Lúc ấy tôi chiến đấu tại đấy. May cho ông và may cho tôi.
Ông Mỹ ra về với một visa miễn phí.



Dân tôi

Ở các chung cư thành phố New York, thường các từng hầm dành cho máy giặt và máy xấy. Một ngày chủ nhật, tôi gặp một bà hàng xóm. Biết tôi, bà hỏi : “ Bây giờ anh giúp tôi xin phái đoàn Việt Nam visa đi VN được không ? 

– Được thôi. Chị đi có việc gì không ?

– Ông chồng tôi lái máy bay và mất tích tại Miền Nam tháng 12 năm 1966. Cho đến nay, vẫn thuộc loại MIA. Tôi muốn đi tìm anh ấy.
 Mấy tháng sau, bà bấm chuông phòng tôi vừa nén cảm xúc vừa kể: “ Tôi đến cái làng gần chỗ trực thăng ông ta rơi nhất. Khi dân làng biết tôi đi tìm xác chồng, họ hỏi tôi đã lập gia đình lại chưa. Tôi bảo chưa. Họ bảo : Có nhiều đoàn đã đến đây thăm dò rồi, chúng tôi không chỉ. Bà là vợ hiền, đi với chúng tôi. Rồi họ dẫn tôi tới ngôi mộ. Họ còn nói ông ấy đến đánh chúng tôi thì chúng tôi đánh lại, nhưng chúng tôi trọng bà.


Ngày tết, kể chuyện phải có hậu. Tiếc rằng đây là câu chuyện thực : hài cốt mà dân làng chôn cất, qua thử nghiệm ADN, không phải là hài cốt ông chồng bà hàng xóm của tôi. Bà vẫn chưa tìm thấy chồng, nhưng bà đã gặp những người bạn. Những năm sau bà có về vài lần và khi về hưu, đã trích một phần quỹ tiết kiệm để xây một ngôi trường làng. Bây giờ cao tuổi, bà đi lại khó khăn, thì cô con gái tiếp tục đi thăm những người bạn của mẹ khi đi tìm hài cốt của bố.

                                                      Mê-hi-cô, 2/2015                                                    
                                                     Nguyễn Hữu Động



Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2014

Chúc Mừng Năm Mới

Thêm chú thích

Ông Vũ Khoan: VN không phải nước nhược tiểu

“Chúng ta phải tự tin rằng chúng ta có sức mạnh, cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Việt Nam không phải là một nước nhược tiểu” – nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhấn mạnh.(VNn 31/12/2014)

Bốn "mảng đỏ" trên bản đồ quốc tế
Thưa ông, nếu phải nhận xét gọn trong một vài chữ thì nguyên Phó Thủ tướng sẽ dùng những từ nào để mô tả về đối ngoại Việt Nam 2014?
Trước khi trả lời tôi muốn nói rằng chúng ta sắp kết thúc một năm cũ 2014 và bước sang một năm mới 2015, tôi rất vui khi có dịp nói chuyện với nhà báo, độc giả của hai tờ báo quan trọng là Vietnamnet và Thế giới&Việt Nam. Tôi phát biểu với tư cách cá nhân, một người ham thời sự chứ không đại diện cho một cơ quan chính thức nào cả.