Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

TÔI LÀ AI

 

(Tạp chí Phương Đông online, 7/8/2020)


Tôi là một hành khách trong chuyến bay giải cứu công dân của Vietnam Airline ngày 8 tháng 7 năm 2020 từ Washington DC (Mỹ) về Hà Nội, sau đó được cách ly 14 ngày tại Trung tâm đào tạo Thành An thuộc Binh đoàn 11 Bộ Quốc phòng. Tại cơ sở cách ly này, tôi và hơn ba trăm người khác cùng chuyến bay, có già có trẻ, đã qua những trải nghiệm nhớ đời và những ấn tượng tuyệt đẹp không thể phai mờ về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong thời kỳ ôn dịch. 

Mỗi sáng thức dậy chúng tôi được phục vụ các món ăn sáng rất Hà Nội, khi thì bánh giò nhân thịt trộn mộc nhĩ, khi thì bánh bao của cơ sở sản xuất Asean, khi thì bánh cuốn Thanh Trì, khi thì sôi xéo hay bánh khúc…, tất cả đều nóng hổi thơm ngon. Hai bữa ăn chính đều là những món ăn bình dân tươm tất và sạch sẽ, có đủ thành phần tôm, cá, thịt và được nhà bếp luôn chú ý thay đổi để tránh trùng lặp. Cứ đến giờ các khay đồ ăn được đưa lên đặt trên bàn ngay ở cửa phòng, người cách ly chỉ cần mở cửa là đã có thể bê vào dùng bữa.

Mỗi người cách ly còn được nhận một túi đồ gồm những vật dụng cần thiết, tỉ mỉ từ chiếc tăm xỉa răng, chiếc bông tăm ngoáy tai đến bàn chải và thuốc đánh răng, khăn mặt, sà phòng tắm, dầu gội đầu…Thỉnh thoảng lãnh đạo Binh đoàn 11 lại tặng quà cho người cách ly, khi thì những chùm nhãn đầu mùa tươi ngon, khi thì ổ bánh mỳ kèm bơ, khi thì bịch nước uống tinh khiết, tất cả đều được đem đến tận nơi.

Nằm trên chiếc giường chiến sĩ là chiếc giường sắt hai tầng sơn xanh, trong phòng có điều hòa nhiệt độ để ở 27 độ C, có quạt trần phe phẩy, tôi cứ tự hỏi mình là ai, mình có ở khách sạn đâu mà lại được ưu tiên, được “cơm bưng nước rót” đến tận miệng thế này. Mình là ai ? Đến khi nghe dưới sân các anh bộ đội gọi loa, mời công dân A công dân B xuống nhận đồ, khi nghe hai tiếng công dân ấy thì tôi chợt hiểu. Chính các anh, những người lính đang phục vụ chúng tôi tận tình, chính các anh là mối liên hệ dễ hiểu nhất, là gạch nối hiệu quả nhất nối liền nhà nước với người dân.

Tôi là một trong số ít những người cách ly cao tuổi, số còn lại chủ yếu là các bạn trẻ, là những nam thanh nữ tú, chưa có gì để gọi họ là những tinh hoa nhưng ít nhất họ đều là những du học sinh trở về từ Mỹ, một quốc gia tiên tiến nhưng đang mắc dịch (cả  nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Nói điêu ngoa một chút thì họ phải về là để chạy dịch. Dù là chạy dịch nhưng họ cũng kịp mang theo về một chút gì gọi là lối sống của thanh niên Mỹ. Không chỉ có thế, họ còn mang theo mình mấy nỗi lo âu, mặc dù biết rằng về Việt Nam rồi thì yên tâm, kể có mắc dịch cũng không sợ chết dịch hoặc tốn tiền chữa chạy nữa. Mấy nỗi lo âu của họ là về chỗ cách ly, ở cách ly có được ăn uống đầy đủ không, có được người nhà tiếp tế đồ ăn thức uống không, có điều hòa quạt mát không, có oai-phai in-téc-nét không, tắm chung hay tắm công cộng, bao nhiêu người dùng một nhà xí…Toàn những nỗi lo về tiện ích, về thói quen sinh hoạt cá nhân, những nỗi lo xem ra thì rất đời thường, rất chính đáng nhưng có cái gì sai sai khi đem nó so sánh với nỗi lo của mấy anh bộ đội đang lo làm tròn phận sự giúp cho các công dân về nước không bị mắc dịch.

Tôi không nói quá, chỉ hai ngày sau khi ở cơ sở cách ly Thành An thuộc binh đoàn 11 thì những nỗi lo đời thường trên kia được rũ bỏ hết. Nhìn các bạn trẻ một số yên bình ngồi trong phọng học online, một số khác nam thì diện ti-sớt quần soóc, nữ thì áo hai dây hở cổ, tóc sơn xanh sơn bạc, người thì ai-phôn kẻ thì ai-pát cầm tay tung tăng giao lưu, hồ hởi tham gia bóng rổ bóng chuyền bên cạnh những anh bộ đội cũng trẻ măng nhưng kín mít trong bộ đồ y tế màu xanh đang tất bật trong bếp lo bữa hoặc lặng lẽ cặm cụi phục vụ, nhìn những cảnh tượng bề ngoài có vẻ trái ngược ấy tôi cứ vẩn vơ nghĩ có thể các bạn trẻ trở về từ Mỹ đã mơ hồ lo sợ những ngày cách ly trước khi phát hiện ra rằng còn có một lối sống khác với lối họ đang sống, một cách sống khác với cách họ đang sống. Đó là lối sống, là cách sống của người lính cụ Hồ đang hàng ngày hàng giờ phục vụ những người cách ly, tận tình, chu đáo mà không tính toán vướng bận gì. Thời của tôi, một người cao tuổi, hình ảnh những những anh bộ đội cụ hồ là hình ảnh những người lính mặc áo trấn thủ, đội mũ ca-lô có đính sao vàng. Còn bây giờ các anh tỏa sáng và hiện ra là những người mặc áo bảo hộ y tế mầu xanh, đội mũ bảo hộ y tế mầu xanh, đeo khẩu trang mầu xanh, chúng tôi không nhìn được hình dáng khuôn mặt các anh nhưng chúng tôi biết trong bộ đồ bảo hộ y tế ấy là mồ hôi và hơi thở của các anh, chúng tôi cảm nhận được là các anh bất chấp cái nắng mùa hè 35 độ C đang cười, đang động viên khích lệ mỗi người trở về chúng tôi, cảm nhận được tình cảm ấm nồng của người chiến sĩ, đức tính kiên cường, sự dũng cảm thầm lặng và tinh thần hy sinh cao cả vì mọi người trong mùa dịch lây nhiễm này. Là người cao tuổi, tôi đã có may mắn từng được đi nhiều nơi, nhưng tôi không biết có còn ở đâu mà người dân trong lúc hoạn nạn lại được đối xử tử tế như thế này.

Nhìn chiếc máy bay Boing 787 sơn lô-gô Vietnam Airline đỗ một cách đĩnh đạc, đường bệ, tuy có chút ngạo nghễ, trên sân bay quốc tế Dullus ở thủ đô nước Mỹ vắng tanh hành khách giữa mùa dịch, tôi nhớ lại đôi lần xa Tổ quốc mà được lên những chiếc tầu thủy mang cờ Việt Nam, được thuyền trưởng và thủy thủ đoàn đón tiếp như đón người thân trở về nhà. Đấy là những lúc trở về Tổ quốc, tượng trưng, ngắn ngủi nhưng đậm đặc nghĩa tình. Lần này vừa bước chân vào chiếc máy bay, tình cảm trở về đã lại rất rõ rệt. Sau 16 giờ bay, chúng tôi đáp xuống sân bay Nội Bài lúc nửa đêm, lúc ấy các anh bộ đội thuộc Binh đoàn 11 vẫn đợi để giúp mọi người đưa đồ lên xe tải, hướng dẫn mọi người lên chiếc xe du lịch 40 chỗ ngồi sang trọng để về khu cách ly. Lúc đến nơi trời đã gần sáng, những người vừa qua một chuyến bay dài mệt mỏi vô cùng bất ngờ được nhận mỗi người một hộp cháo gà đầy đặn, nóng hổi và thơm ngon. Bê bát cháo mà vừa ngạc nhiên, vừa xúc động. Lúc ấy tôi biết chắc rằng mình đã trở về, rằng mẹ Tổ Quốc đã dang tay ôm những đứa con chạy dịch vào lòng. Trong lòng Mẹ, những đứa con thậm chí không danh tính bỗng thấy mình không còn nhỏ bé, không còn lẻ loi cô đơn. Mọi nỗi lo sợ về dịch bệnh và cuộc sống chênh vênh bên sứ người phút chốc được rũ bỏ, tan biến. Trong lòng mẹ Tổ Quốc dù có âm tính hay dương tính thì chúng con vẫn thật bình an.

          Xin cám ơn các anh bộ đội ở cơ sở cách ly Trung tâm đào tạo Thành An thuộc Binh đoàn 11 đã chăm sóc chúng tôi tận tình và chu đáo trong suốt 14 ngày cách ly, xin cám ơn tất cả các anh bộ đội ở tất cả các cơ sở cách ly đang chia sẻ nơi ăn chốn ở cho những người vừa trở về từ cơn ác mộng. Cám ơn các anh chính là cám ơn mẹ Tổ Quốc Việt Nam.

 

                                                                        10-24/7/2020

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

MỘT NHÀ NGOẠI GIAO VỚI NHỮNG TRANG VĂN TRĂN TRỞ VỀ THÂN PHẬN NGƯỜI VIỆT

 
                                                                     Phạm Quang Đẩu
                                                     (Báo Tinh hoa Việt số 125, 10/6/2020)
Trong số các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay đều có xuất thân từ  nhiều ngành nghề, song là nhà ngoại giao chuyên nghiệp thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Một bạn viết của tôi, nhà văn Thăng Sắc, ông từng là đại sứ ở nhiều nước châu Âu, châu Phi và châu Á trước khi trở thành nhà văn. Hiện ở tuổi “xưa nay hiếm”, sức sáng tạo của ông vẫn dồi dào, là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết mới gây được tiếng vang về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hồi đầu năm 2004, lần đầu tôi biết đến cái tên Thăng Sắc qua đọc truyện ngắn Gò Sim trong tạp chí Nhà văn. Vì nội dung truyện bạo liệt, hấp dẫn, cách dẫn dắt khá hiện đại khác hẳn những truyện ngắn “đèm đẹp”, “hiền lành” vẫn thường thấy, nên đọc xong còn nhớ tên tác giả. Đầu năm sau, tạp chí Nhà văn qua dư luận bạn đọc, đã đăng lại một số truyện hay của cả năm trước, Gò Sim được chọn. Thế rồi đến năm 2010, Hội Nhà văn Việt Nam công bố các tác phẩm trúng giải Văn học sông Mê Kông lần thứ ba, trong đó có 2 cuốn tiểu thuyết của tôi và Thăng Sắc. Thăng Sắc với Chú Tư con là ai, viết về cộng đồng người Việt sống lênh đênh trên biển hồ Tông Lê Sáp, Campuchia; còn tôi với Một ngày là mười năm viết về quân tình nguyện Việt Nam ở Lào thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hôm Hội Nhà văn mời các tác giả được giải đến, tôi mới biết mặt Thăng Sắc. Không khỏi bất ngờ, bởi tôi cứ nghĩ “văn là người”, hình dung tác giả Gò Sim phải ít ra có cái diện mạo dữ dằn chẳng hạn như dáng cao lớn, nét mặt góc cạnh. Nhưng khi nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu thì Thăng Sắc, là một người nhỏ nhắn, thư sinh, nụ cười hiền lành, tên thật là Nguyễn Chiến Thắng. Ông nhiều năm sống ở nước ngoài, nhiệm kỳ đại sứ cuối cùng là tại Campuchia, trước đó từng là đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Pháp, kiêm nhiệm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha; Đại sứ tại Algeria, kiêm nhiệm Mali, Sarauy Dân chủ... Giải Văn học sông Mê Kông thường dành cho hội viên của Hội Nhà văn 3 nước Đông Dương, năm ấy nhận giải Thăng Sắc chưa hội viên, phải 3 năm sau ông mới được kết nạp vào Hội. Thế rồi vào đầu tháng 3-2010, nhà thơ Hữu Thỉnh dẫn đầu đoàn nhà văn Việt Nam sang Viêng Chăn giao lưu cùng nhà văn Lào, Campuchia. Tôi và Thăng Sắc được nhận giải từ tay ông Phó Thủ tướng Thường trực nước bạn, ông nói tiếng Việt sõi như người Việt: Chúc mừng đồng chí có tác phẩm hay! Những ngày nhận giải và đi thăm thú nước bạn cùng Thăng Sắc, tôi đã được nghe ông kể nhiều về kỷ niệm trong đời làm ngoại giao và lý do thôi thúc ông cầm bút viết văn “tay trái” mà vẫn có được thành tựu như vậy.
Ông kể là, trong nghề ngoại giao, chỉ riêng việc trình quốc thư thôi cũng khối chuyện thú vị. Năm 1993 ông sang Algeria làm đại sứ, lễ tân quy định đại sứ mới đến khi chưa trình quốc thư lên nguyên thủ quốc gia thì chưa được có tiếp xúc chính thức. Sau khi gặp Tổng Vụ trưởng lễ tân để trao bản sao thư, ông đã “quên mất” điều quy định trên mà đi gặp Tổng Vụ trưởng khu vực châu Á. Ngay hôm sau, Vụ trưởng Vụ Lễ tân đã gọi ông lên Bộ Ngoại giao nước sở tại để nhắc nhở. Đến năm 2000, ông được cử làm đại diện Việt Nam tại cuộc họp Bộ trưởng các nước nói tiếng Pháp tổ chức ở Cộng hòa Chad (châu Phi), gặp lại vị Vụ trưởng Lễ tân kia, trong lúc cụng ly ông bảo nhỏ: Sao ngày đó ông hắc thế? Vị kia liền cười thoải mái bảo là cái nghề lễ tân phải chi tiết tỉ mỉ đúng nguyên tắc như vậy đấy. Sang Cộng hòa Pháp nhận đại sứ, ông trình quốc thư lên Tổng thống Jacques Chirac, đã nhiều lần làm việc này mà vẫn không khỏi hồi hộp. Tổng thống Jacques Chirac dáng cao to, hồ hởi, chủ động làm bớt khoảng cách giữa nguyên thủ với đại sứ, gọi ông bằng từ “camarade”. Trong tiếng Pháp, từ này không chỉ có nghĩa là “đồng chí”, mà còn là cách gọi thân mật của những người cùng học một trường. Tổng thống đã chu đáo hỏi trước tiểu sử của tân đại sứ, biết Nguyễn Chiến Thắng từng học ở Trường Hành chính quốc gia Pháp (ENA), hàm ý rằng ông và đại sứ đều từ đấy mà ra cả. Riêng việc trình quốc thư lên vua Tây Ban Nha phải mặc lễ phục đuôi tôm. Hôm hành lễ, đại sứ đi xe 6 ngựa kéo, dân chúng đứng hai bên đường thấy lạ mắt giơ tay vẫy chào. Ông bảo, mình dân châu Á dáng nhỏ bé mặc lễ phục đuôi tôm vào yết kiến vua nom hài hước chẳng khác gì bá tước Caraba trong phim Chú mèo đi hia(!). Đơn giản nhất thế giới về lễ nghi có lẽ là ở nước Sarauy Dân chủ trên sa mạc Sahara. Nơi làm việc của Tổng thống là một ngôi nhà thấp, tường đắp đất rất dày để chống nóng. Tổng thống mặc quân phục màu cỏ úa, đứng đợi sẵn ở cửa chờ đại sứ đến trình quốc thư, vui vẻ gọi ông là “đồng chí”, nói chuyện với nhau thân mật như những người lính cùng chiến hào, không có thêm thủ tục lễ nghi nào khác.
Với đất nước Chùa Tháp, ông nhiều kỷ niệm bởi đã có thời gian khá dài làm việc trên đất bạn, riêng nhiệm kỳ đại sứ là 4 năm (2005-2009). Ông nhiều lần được dự tiệc của cựu hoàng Norodom Sihanouk và Hoàng thái hậu Monica tổ chức chiêu đãi các đại sứ. Cựu hoàng nói bằng thứ tiếng Pháp chuẩn mực và hào hứng “dẫn chương trình” phần văn nghệ rất náo hoạt. Ở lần thứ 3 ngài hát những bài tự sáng tác như bài Monica viết tặng Hoàng thái hậu, còn hát bài của các nước kể cả của Việt Nam. Khi hát xong Cây trúc xinh, cựu hoàng vui vẻ hỏi lại ông: Tôi hát thế có rõ lời không? Sau đó ngài còn nói là rất biết ơn Việt Nam đã giúp Campuchia đánh đuổi Khơ Me Đỏ, nếu không có Việt Nam thì làm sao một người tù của Khơ Me Đỏ là Sihanouk được đứng đây hát cho các vị nghe hôm nay.
Ngoài công việc của một quan chức ngoại giao, từ lâu ông còn có ý thức tích lũy vốn sống của một nhà văn. Ông thường tiếp xúc với Việt kiều ở các nước sở tại, quan tâm đến đời sống kinh tế, văn hóa của họ nơi đất khách quên người. Khi công tác ở Campuchia, ông dành thì giờ, nhiều lần đến thăm những xóm Việt kiều ở ngoại ô. Cứ mỗi lần đi về, trong lòng ông lại day dứt khôn nguôi bởi thấy bà con mình còn nghèo quá và muốn làm được một cái gì đó cụ thể cho họ. Thế là những khi rảnh việc ông ghi chép về cuộc sống cùng tâm tư nguyện vọng của họ, hình thành nên cuốn tiểu thuyết Chú Tư con là ai sau này. Sức cuốn hút của tác phẩm là một bức tranh phong phú sinh động về cộng đồng người Việt trên Biển Hồ mênh mông vẫn gắn kết chặt chẽ cùng giúp đỡ nhau trong đời thường cũng như lúc gặp hoạn nạn. Kết cấu truyện chặt chẽ, văn phong dung dị, hàm xúc đã nhận được số phiếu bầu cao của hội đồng xét Giải văn học sông Mê Kông. Trước tác phẩm này, Thăng Sắc còn có hai tiểu thuyết được dựng thành phim, đó là Nụ tầm xuân, đạo diễn Bạch Diệp và Chớp mắt cùng số phận, đạo diễn Ngọc Linh, cả hai đều viết về người lính tình nguyện Việt Nam. Có lần tôi hỏi Thăng Sắc, tại sao lại tâm huyết với chủ đề người lính như vậy? Anh nói: “Tôi đã gặp và tận mắt thấy những người lính tình nguyện Việt Nam giúp nước bạn Campuchia đánh đuổi tàn quân Pol Pot, chiến thắng lớn nhưng thương vong cũng nhiều. Hình ảnh những người lính bị thương được đưa từ chiến trường về, băng trắng quấn quanh cơ thể, có người ôm nạng ngồi, có người cụt cả chân tay đã hằn sâu vào suy nghĩ của tôi về đất nước, về dân tộc và về tình cảm quốc tế, điều đó chính là một trong những mối liên kết chắc chắn giữa văn chương và ngoại giao”. Cũng cần nói thêm, không chỉ tích lũy vốn sống, nhà văn tương lai còn trang bị cho mình một nền tảng lý luận về văn chương. Đó là trong quá trình làm công tác ngoại giao dù rất bận rộn, ông còn hoàn thành tại đại học Sorbonne một văn bằng thạc sĩ văn chương về “Văn tự luận”.
Do có sự chuẩn bị khá kỹ càng, sau năm 2010 nghỉ hưu, ông có nhiều thì giờ cho viết lách hơn, thì cứ một, hai năm lại cho ra đời một cuốn tiểu thuyết dày dặn cỡ trên 300 trang. Cuối năm 2015, NXB Hội Nhà văn ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết: Đi trong lốc xoáy. Vẫn là bám sát đời sống, các nhân vật bị quay cuồng trong cơn lốc xoáy của cơ chế thị trường hôm nay. Có cả những số phận nghiệt ngã “hơi hướng” của Gò Sim, nhưng bao trùm lên vẫn là tấm lòng bao dung của con người trong cơn hoạn nạn, cái phẩm chất hồn hậu, nhân ái trong Chú Tư con là ai. Nhưng phải đến Ngụ cư(NXB Hội Nhà văn 2017) Thăng Sắc mới bộc lộ hết sở trường của một nhà văn trong nghề ngoại giao, từng đến tìm hiểu ở nhiều nước có đông cộng đồng người Việt sinh sống, như: Nga, Séc, Ba lan...Nhân vật chính của tiểu thuyết này là Bùi Khoái, một giảng viên đại học đi xuất khẩu lao động vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước.Tác giả tả lúc anh “tân binh” ấy đi giao hàng lậu bằng những dòng khá sinh động, hóm hỉnh: “Bùi Khoái và Đình Dũng tiến đến ngồi xuống ghế, vẫn không ai nói gì, nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch trong ngực...đến khi mở cửa phòng rồi khép chặt cửa lại, cả hai mới thở phào và phá lên cười: Mẹ kiếp cứ như biệt động Sài Gòn ấy.”(Trang 88). Ở môi trường kinh doanh chụp dật, anh ta phải làm lại từ đầu, học những bài sơ đẳng, đại loại như dạy dỗ của một cô người Hải Phòng: “Làm ăn dễ thôi, mình có hàng thì đem bán. Bán có tiền lại đi ôm của người khác về. Cứ thế quay vòng cho vốn lớn lên”(Trang 61); hoặc: “Anh ngốc ạ, trong khi chưa gửi được về thì mình bán lại cho người ta. Miễn là có lãi. Để chất đống trong nhà làm gì. Bằng lòng ăn ít thôi nhưng nhanh được ăn, vốn mau tăng. Có vốn thì lại đánh được nhiều hàng.”(Trang 73)... Đến khi Bùi Khoái tích cóp được một món tiền kha khá định để “mở rộng sản xuất” và gửi về nước trả nợ, thì bị bọn xã hội đen “khoắng” sạch. Choáng váng, tưởng như bị quỵ hẳn. Bạn bè xúm lại đỡ anh ta đứng dậy, vì thấy anh vốn là người trọng tín nghĩa. Chính vì trọng chữ “tín”, mà khi làm ăn ở Tiệp bị trắng  tay phải bán xới sang nước láng giềng Ba Lan, Bùi Khoái lại có được thành công, lần này lớn hơn, vững chắc hơn. Cái kết của cuốn sách là có hậu, như câu ngạn ngữ “ở hiền gặp lành”. Đấy là dụng ý xuyên suốt khi xây dựng nhân vật chính của tác giả Thăng Sắc. Cuốn Ngụ cư đã lọt vào vòng xét chung khảo những tác phẩm xuất sắc nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm ấy.
Năm 2020 này, trong lúc nhà văn Thăng Sắc cùng vợ sang Mỹ thăm gia đình đứa con đang sống ở NewYord thì dịch Covid 19 ập đến. Trong những tháng ngày chủ yếu sống trong nhà, không hé mặt ra đường Thăng Sắc đã vừa kịp viết xong một cuốn tiểu thuyết mới: Láng giềng. Ông vẫn giữ thói quen gửi tôi đọc tác phẩm từ khi còn là bản thảo. Lại thêm một cuốn nữa của nhà văn có yếu tố “nước ngoài”, đó là đi vào mổ xẻ, phản ánh thân phận những con người yếu thế của một “xã hội vùng biên”. Họ thường xuyên có mối liên hệ làm ăn buôn bán “tiểu ngạch”, luôn chấp chới trong lằn ranh vi phạm pháp luật. Cuộc mưu sinh kiểu ấy thường thì bao giờ cũng gặp phải những kết cục cay đắng. Đằng sau con chữ, số phận nhân vật là lời cảnh báo đầy ý nghĩa với cộng đồng về những kẻ láng giềng xấu chơi bên kia biên giới phía Bắc. Với tiểu thuyết mới nhất này, ta lại thấy cái “vốn” ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt trong nhà văn vẫn đang được khai thác khá là triệt để dưới góc nhìn nhân bản. Hãy đợi tác phẩm chính thức ra mắt, để bạn đọc có những đánh giá cụ thể, riêng tôi đọc bản thảo lần đầu thì thấy ở đây lại có những thành công về cấu trúc, xây dựng nhân vật của cuốn tiểu thuyết. Trước hết xin được chúc mừng anh!
----------------------------------- 
Ảnh theo bài: Nhà văn Thăng Sắc(bên phải) và tác giả trong lần sang thủ đô Viêng Chăn(Lào) nhận giải thưởng Văn học sông Mê Kông(Tháng 3-2010)



Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

ĐẠI TÁ, NHÀ VĂN NHÀ BÁO QUÂN ĐỘI PHẠM QUANG ĐẨU NHẬN XÉT NGỤ CƯ


Mở đầu cuốn sách, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta những năm 1980 gặp rất nhiều khó khăn, ở một trường đại học nọ có giảng viên Bùi Khoái đang rất muốn thoát khỏi cảnh nghèo túng. Trong bộ môn của anh đã có 2 người “tự cứu” bằng cách nuôi lợn chui trong khu tập thể; 1 cuốn thuê xú-vôn-tơ; 3 lặng lẽ chuồn ra ngoài dạy thêm... Còn anh, tìm được bí quyết tạo ra sự gắn kết giữa cao su và tấm mành lưới đã hăng hái vay tiền mua máy ép nóng lập xưởng sản xuất lốp xe đạp. Cơ chế chính sách thời ấy chưa cho phép anh làm giàu kiểu như vậy, nên đã sớm “sập tiệm” và lâm vào cảnh nợ đầm đìa. Vợ sắp sinh, bố, rồi chị dâu ở quê đau yếu nặng đang cần tiền thuốc thang, để cứu nhà Bùi Khoái chỉ còn cách bỏ nghề, xuất khẩu lao động sang các nước XHCN Đông Âu. Và anh trở thành đội trưởng lao động ở một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô thủ đô Pra-ha, nước Tiệp. Câu chuyện bươn trải kiếm đồng tiền bát gạo nơi xứ người bắt đầu từ đây. Ngay trong năm đầu lãnh trách nhiệm đội trưởng trong nhà máy, anh đã “chân ngoài dài hơn chân trong” buôn bán đủ thứ, giao du với đủ hạng người, được mất liên tiếp và có lúc còn suýt đánh đổi cả mạng sống của mình. Ở môi trường kinh doanh chụp dật như thế, anh phải làm lại từ đầu, học những bài sơ đẳng về kinh doang, đại loại như lời dạy dỗ của một cô công nhân người Hải Phòng đã đi xuất khẩu trước anh: “Làm ăn dễ thôi, mình có hàng thì đem bán. Bán có tiền lại đi ôm của người khác về. Cứ thế quay vòng cho vốn lớn lên”(Trang 61); hoặc: “Anh ngốc ạ, trong khi chưa gửi được về thì mình bán lại cho người ta. Miễn là có lãi. Để chất đống trong nhà làm gì. Bằng lòng ăn ít thôi nhưng nhanh được ăn, vốn mau tăng. Có vốn thì lại đánh được nhiều hàng.”(Trang 73)...Tác giả tả lúc anh “tân binh” ấy đi giao hàng lậu bằng những dòng khá sinh động, hóm hỉnh: “Bùi Khoái và Đình Dũng tiến đến ngồi xuống ghế, vẫn không ai nói gì, nghe rõ tiếng tim đập thình thịch trong ngực...đến khi mở cửa phòng rồi khép chặt cửa lại, cả hai mới thở phào và phá lên cười: Mẹ kiếp cứ như biệt động Sài Gòn ấy.”(Trang 88). Thế rồi trong hoàn cảnh liên tục gặp thất bát, tai bay vạ gió cũng làm anh ta khôn lanh lên nhiều, có lúc còn đứng ra lập hẳn một xưởng may quần bò jens đem bán xỉ hoặc đóng hàng gửi về nước. Đến khi anh tích cóp được một món tiền kha khá định để “mở rộng sản xuất” và gửi về nước trả nợ, thì bị bọn xã hội đen “khoắng” sạch. Choáng váng, tưởng như bị quỵ hẳn. Bạn bè xúm lại đỡ anh đứng dậy, họ giúp anh những lúc hoạn nạn vì thấy anh là người trọng tín nghĩa. Trước lúc đi xuất khẩu, Bùi Khoái đã phải đôn đáo vay nợ nhiều nơi, đều hứa sang nước người làm ăn có tiền sẽ sớm gửi về trả. Có ông bạn đồng nghiệp cùng trường láu cá, ra điều kiện “dễ dãi” là vay bao nhiêu đồng Việt Nam thì trả đúng bấy nhiêu đồng cu-run Tiệp chuyển đổi bằng hiện vật. Khi anh trả số nợ qua một người quen của tay láu cá ấy, dù biết mình bị mắc lỡm, một đồng cu- run ăn những bốn, năm đồng Việt và đã có người bày cho cách vẫn trả đủ bằng hiện vật, mà mình lại đỡ bị thiệt thòi, nhưng anh vẫn nhất quyết trả đúng bằng số cu-run như đã hứa. Chính vì trọng chữ “tín”, mà khi làm ăn ở Tiệp bị trắng  tay phải bán xới sang nước láng giềng là Ba Lan, Bùi Khoái lại có được thành công, lần này lớn hơn, vững chắc hơn. Nhờ sự giúp đỡ của một “soái” vốn là học trò từng tham gia vào công trình ép lốp xe đạp ở nhà, anh lập ra hợp tác xã mua bán, mở công ty buôn bán quần áo, mở nhà hàng ăn uống các món đặc sản Việt Nam, rồi cho thuê kho bãi, dịch vụ vận chuyển...Cũng có nhiều kẻ xấu định hại anh, cướp hàng, thậm chí còn định “xơi tái”, song trong quá trình hơn chục năm làm ăn ở xứ người anh có rất nhiều bạn tốt, cưu mang giúp đỡ trong lúc hoạn nạn. Nhân vật chính được tác giả dày công khắc họa là một con người tử tế, song không phải anh ta không có lúc mù quáng, mắc sai lầm, mà là sai lầm nghiêm trọng suýt đổ vỡ lâu đài hạnh phúc anh đã dày công vun đắp. Ấy là khi xuất hiện nhân vật “nữ quái” Minh Thúy. Lúc cô ta đang thất cơ lỡ vận, phải đứng trong tuyết bán hàng rong ngoài chợ thì tình cờ gặp “soái” Bùi Khoái. Tuy anh vốn không phải kẻ háo sắc, song lại “máu” có con trai nối dõi tông đường. Con gái anh đã lớn và Thanh, vợ anh thì ốm yếu. Trước một Minh Thúy “gái một con mòn con mắt” anh đã không cầm lòng và nhanh chóng đi đến quyết định lén lút qua lại với cô, cưu mang cô, biến cô thành bồ nhí. Đọc vị được đối tác và chớp thời cơ để mong thành bà chủ giàu có, cô ta đã lừa Bùi Khoái trong một màn kịch “hôn nhân giả”. Đến phút cuối, khi sắp sa chân xuống vực thì nhân vật chính của chúng ta mới sực bừng tỉnh. Đoạn kết của tấn bi hài ấy, anh đối thoại với Thanh, người vợ thủy chung, đôn hậu: “Cô chậm bước những bước dứt khoát đi vào trong phòng, tay run run cầm ra một chiếc phong bì đưa cho Bùi Khoái. Bùi Khoái mở phong bì, đứng chết lặng. Không đọc hết anh cầm lá đơn ly hôn xé vụn...”(Trang 395). Dù sao, tác giả cho nhân vật chính của mình “thoát hiểm” theo cái cách như thế, một cái kết có hậu như thế cũng là muốn người đọc không cảm thấy hụt hẫng, tiếc nuối như trong nhiều tiểu thuyết tâm lý xã hội thường khai thác bi kịch hôn nhân đổ vỡ  diễn ra trong các gia đình thời hiện đại.  Cái kết của cuốn sách là có hậu, như câu ngạn ngữ “ở hiền gặp lành”. Coi trọng chữ “Tín” là bản năng trong con người anh. Ngay cả sau này, khi Bùi Khoái đã trở thành một nhà kinh doanh có tiếng, tính cách ấy vẫn được nhận ra trong các tình huống. Đấy là dụng ý xuyên suốt khi xây dựng nhân vật Bùi Khoái của tác giả Thăng Sắc.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

Đại sứ Nguyễn Mạnh Dũng nhận xét về tiểu thuyết Ngụ cư


          “ Ngụ cư” phác hoạ những cuộc mưu sinh đầy mồ hôi, nước mắt và cả máu trên mảnh đất Đông Âu. Những nhân vật, những sự việc gần gũi như ở quanh ta, mà ta đã gặp đâu đó trong cuộc đời. Ấy vậy mà khi đọc Ngụ cư vẫn thấy cuốn hút bởi một cây bút có nghề, với cái nhìn tinh tế, đầy lòng trắc ẩn và hóm hỉnh. Có những chi tiết bất ngờ thú vị khiến người đọc bật cười cảm khoái. Không ít trang viết đầy xúc động, ám ảnh như cái chết tức tưởi của ông lão đánh cá nghèo bị rắn cắn khi đi tìm lá thuốc chữa cho người sĩ quan quân tình nguyện Việt Nam đồng hương ở Campuchia, như cuộc gặp gỡ cảm động giữa nhân vật chính và người thủ trưởng già chân thành và nghèo khó của mình....
          Cái ám ảnh của những trang viết còn ở chỗ tác giả làm cho người đọc tự đặt câu hỏi về những vấn đề mang tính xã hội, những trái khoáy trong cuộc đời, về thân phận con người không dễ lý giải bằng cách nhìn đơn giản, một chiều: khổ vì nghèo nhưng khi giàu rồi thì cũng không hẳn là sướng; một mình ra xứ người kiếm sống mang theo nỗi nhớ vợ con đến quằn quại hàng đêm, ấy thế mà khi vợ chồng đoàn tụ lại cảm thấy xa lạ, đau đớn, xót xa; cái xấu, cái ác luôn tồn tại, nhưng nguy hiểm nhất là khi nó núp đằng sau chiếc mặt nạ đẹp....
          Đằng sau thân phận nhọc nhằn của những mảnh đời trong Ngụ cư thấp thoáng lịch sử bi tráng của đất nước trong thập lỷ 80-90 của thế kỷ 20. Đám cưới của đôi trẻ xuất thân từ hai gia đình từng đứng trên hai trận chiến đối lập, với cái nhìn trong trẻo không tỳ vết của quá khứ chiến tranh báo hiệu tương lai của một nước Việt Nam hoà hợp. Phải chăng đây là “dự báo” của cuốn tiểu thuyết đáng đọc này.
          Chúc mừng Anh, Đại sứ-Nhà văn Nguyễn Chiến Thắng và người đồng tác giả khiêm nhường không có tên ghi trên bìa sách: Chị Nguyệt, vợ Anh.


Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Nhà văn Văn Chinh : Ngụ cư là một tiểu thuyết thành công.


                                         NHỮNG MẢNH VIỆT GHÉP Ở XỨ NGƯỜI
                                                                   Nhà văn Văn Chinh, báo Văn Nghệ 12/2017.  
      
          Tôi gặp ông Nguyễn Chiến Thắng lần đầu tại một quán bar ở Phan Bội Châu, chúng tôi có người bạn chung là Nguyễn Khắc Phục. Hôm ấy Phục đãi rượu Cointreau, nhắm với món cũng rất đặc biệt và đặc trưng Nguyễn Khắc Phục, là kể câu chuyện người Thái Bình từng bơi thuyền sang mạn Hongkong vào mùa sương giá mò sò huyết trộm. Tại sao phải đi vào mùa sương giá, vì từ đó về đến Thăng Long phải kể hàng tháng; chỉ trong khí lạnh sò huyết mới còn tươi trong miệng thực khách. Lý Thường Kiệt nhân việc dân sự, mới nghĩ ra chiến thuật cho quân giả làm dân mò sò huyết che xung quanh bè luồng Thanh chở voi chiến, khi voi lên bờ thì khiến quân địch tưởng là thiên binh thiên tướng, chưa đánh mà tự vỡ trận.

        Trong hương vị Cointreau, còn một ấn tượng nữa là tên cuốn sách “Chú Tư, con là ai?”của Nguyễn Chiến Thắng. Nó gợi về những thân phận sinh ra trong chiến tranh, li loạn và tha hương cầu thực. Ai từng đọc nó, như bây giờ đọc “Ngụ cư” (ký tên là Thăng Sắc) lại biết thêm, tác giả của chúng đã từng làm Đại sứ tại Angeri, Pháp và Campuchia thì dễ nhận ra diện mạo tinh thần của nhà văn: Nặng lòng với những đồng bào xa xứ. Ở Ngụ cư, tác giả để tâm quan sát những người Việt, do các lý do khác nhau mà bị văng ra khỏi đất mẹ rồi vì sinh kế, tụ lại với nhau thành những cộng đồng nhỏ, làm nên những mảnh Việt và ngược lại, qua đó để thêm một góc nhìn về đất nước con người Việt.

        Ngụ cư có thể đọc liền mạch, trong đêm. Vì rất ly kỳ, lối viết cổ điển, dễ đọc; ông lấy bằng Thạc sĩ Văn chương tại Pháp, nhưng viết là Ăng-đrây và Vác-sa-va mỗi khi nói đến tên người tên đất. Hẳn ông ngụ ý rằng, tôi dùng tiếng Việt, cái nhìn Việt – tĩnh để đọc sự phức hợp, đa diện về các trục chuyển động của thế giới?

Dẫu sao, đó cũng là yếu tính của bản lĩnh chính trị thời hội nhập, nó quan trọng như sự lấy đà trước khi nhảy lên hay nhảy khỏi tầu điện; tôi nghĩ thế!

Phẩm chất làm nên tư thế đại sứ ấy cũng giúp ngòi bút Nguyễn Chiến Thắng đọc vị sự vật được khách quan. Chỉ qua Bùi Khoái, kỹ sư sức bền vật liệu, dạy ở Đại học Bách khoa chỉ vì năng động, muốn vừa nghiên cứu vừa sản xuất hàng hóa lập tức bị một tay cơ hội chính trị là Trịnh Hùng giã cho tơi bời bằng các lý luận xơ cứng thành thân bại danh liệt mà văng sang Tiệp – chỉ với Bùi Khoái, một thời, một mảnh đất nước hiện ra mồn một. Oái oăm và nhất là thú vị là, kẻ cơ hội ấy sau này cũng du học, trở thành có vai vế, có tiếng nói trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhưng quanh Khoái có hai nhân vật cùng để lại ấn tượng hơn, là ông anh ruột Bùi Khoai và Trần Đại, cựu bí thư chi bộ Trường Đại học Bách khoa. Sớm nhận ra phẩm chất và năng lực của Bùi Khoái, đã ủng hộ anh nhưng không thể kết nạp anh, không thể bênh vực lẽ phải thuộc về anh vì “nó khác với lý luận hiện thời”; ông Trần Đại rồi cũng phải đi dạy học ở Angeri, khi về mang bột zan-ta-mi-  xin bị Hải quan bạn lột sạch; trở sang cũng phải mang đồ Thái sang bán bên Ba Lan để cải thiện, “cũng chẳng được bao nhiêu đâu Khoái ạ, chỉ để bù vào tiền vé đi về”. Ông nhận từ Bùi Khoái mấy trăm đô, trong phiên chợ chiều hàng ế - chi tiết thật bùng nổ, ngậm ngùi. Còn ông Đại tá ăn lương tướng của anh, ông Bùi Khoai thì vẫn ở trong ngôi nhà do bố mẹ để lại, không có toilettes tự hoại – mong muốn trước mắt là “xây lại nhà, có toilettes, có phòng riêng cho mỗi khi chú với con Thu về thăm quê.” Diễn biến tâm lý Bùi Khoai trước tình yêu và hôn nhân của cô con gái duy nhất thật tinh tế và phức tạp. Hoàng Thu yêu Duy Tuấn, con trai của cựu Trung tá VNCH Lê Liêm. Ông khùng lên vì con không những yêu con kẻ địch cũ, lại là Việt kiều Mỹ mà còn vì trong đáy sâu mặc cảm về sự giàu nghèo, ông sẽ không được “tụi nó coi trọng.” Cắt nghĩa một tâm thế phức tạp của xã hội mà viết thật nhẹ nhàng, với các lời thoại không thể giản dị hơn; ở chỗ này, phương thức cổ điển đã không khác so với siêu thực về sức biểu đạt của ẩn dụ.

        Ai đó nói, châu Á có bốn chủng người rất giỏi ứng biến với hoàn cảnh lạ, có thể so với Do Thái ở châu Âu là Jopon, Koreo, Hán và Việt. Bùi Khoái là ví dụ minh chứng. Vỡ nợ do cú lập xưởng sản xuất săm lốp bị quy là CNTB, để lại cô vợ bệnh tim và sắp đến tháng đẻ; anh phải vay nợ lãi cao để sang Tiệp làm đội trưởng lao động xuất khẩu. Cũng là do ông Trần Đại, mặc dầu sống nghiêm cẩn với quy định, nhưng từ trong lương tri, ông vẫn nhận ra cái “không phải’ của mình với Khoái, cú đi Tiệp của Khoái là ông đền bù cho anh. Khoái đã hai lần giàu có rồi hai lần tay trắng. Lần đầu ở Tiệp, là khi Khoái gom tiền để về nước. Cái logic tâm lý của người Việt là Khoái sẽ “áo gấm về làng’ để mặn này bõ nhạt xưa. Nhưng số phận không muốn vậy. Lòng tốt đi cùng sự nhẹ dạ, nhẹ dạ đến thành một thứ bệnh, bệnh vô lý của người Việt: “Trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Ấy là anh đã muốn “cải huấn” tính cách kẻ khác bằng cách cho bốn tên đạo tặc, chuyên dí súng đòi nộp tiền vào ở nhờ nhà mình; lại như một thứ dĩ độc trị độc. Hậu quả của sự vô lý là Đẻn và Sơn đã nhân dịp anh vắng mặt lâu ngày để hót sạch 6 - 7 năm lăn lộn trên thương trường tích cóp chứa trong két sắt. Bọn lưu manh này rất quái, chúng đã mượn thuộc tính không hiển thị địa chỉ của điện thoại di động để tạo chứng cớ ngoại phạm, là nói đang ở rất xa “nhà”. Lần thứ hai cũng lại là một “canh bạc vét” để về nước, dốc vốn buôn hàng lậu. Lần này thủ phạm là tay lái xe Ba Lan tên Mi- rêc, bạn làm ăn đã trở nên thân thiết với Khoái. Hắn tạo ra hiện trường giả, nói là hàng lậu bị công an tóm và tịch thu hết. Cả hai cách trấn lột đều là sản phẩm của giới giang hồ, buôn lậu; ở xứ lạ, cách để biện hộ cho hành vi cũng là của những người không cùng ngôn ngữ, khác biệt về văn hóa và luật pháp.

Khi bị bứng khỏi xứ sở, tục lệ làng xã; sống ở nơi ít bị ràng buộc khỏi hệ thống quản trị cũng như các ước lệ xã hội sở tại, con người dễ bộc lộ bản chất và dã tâm. Chẳng cứ bọn Đẻn, Sơn chuyên sống bằng chấn lột vì biết cảnh sát ít quan tâm đến xã hội ngoại kiều nếu không khai báo, đến cả Ăng-đrây, sĩ quan đặc nhiệm của Nam Tư, khi thể chế trở nên hỗn độn thì vượt biên mà trở thành một trùm băng đảng xã hội đen chuyên bảo kê kiếm tiền. Chi tiết Ăng-đrây giúp Khoái giải cứu vợ Sơn Tùng khỏi lũ bảo kê, bắt cóc người để đòi nợ thuê cho một soái khác thật ly kỳ như một trường đoạn của phim hành động Mỹ. Chưa chết người, nhưng trên thương trường ấy đã đổ máu, vợ Sơn  Tùng được giải cứu, nhưng bị chặt một ngón tay – luật rừng đã đóng dấu vĩnh viễn trên số phận cô, đóng đinh vào tâm can người đọc. Ngay Thực, anh nhân viên phụ trách nhà khách, chỉ là chân “sống nhờ” dân buôn lậu, tại xứ người cũng trở nên trắng trợn vì cái mặt nạ đạo đức khiến trở nên vướng víu, hắn đã vứt toẹt đi. Một kiểu thực dân khác, nhỏ thôi và cũng là điển hình cho căn bệnh mới nhiễm, ấy là lợi dụng thói cửa quyền, bất cứ ai nhờ y, Thực cũng nhờ lại một việc sinh lợi: Mua giúp hàng, lại gửi chính kẻ mua giúp bán hộ; hay gửi hàng (bằng) nước bọt về nhà…Những ai sống bằng thùng hàng của thân nhân lưu vong, bất kể là kiểu Lê Liêm, Bùi Khoái, Sơn Tùng  hay Trần Đại, Trịnh Hùng, Thực…không thể không rơi nước mắt xót thương.

        Nhưng ở Ngụ cư, không chỉ có những mảnh Việt vụn vặt xấu xí ghép lại. Cuốn sách gây hứng khởi người đọc nằm trên chiều ngược lại. Đó là ý chí và trí lự người Việt nằm ở những Bùi Khoái, Nguyễn Bách đã trở thành hạt nhân cho những mảnh Việt châu tuần và được dẫn dắt. Nguyễn Bách vốn là sinh viên trong nhóm lập xưởng sản xuất săm lốp cùng thầy Khoái năm xưa, đã sang Ba Lan trước thầy, thầy trò gặp nhau oái oăm và cảm động. Khi trắng tay ở Tiệp, không chịu về nước như một kẻ bại trận, Khoái đã trốn trong thùng xe chở hàng lạnh sang Ba Lan để từ đó anh cầm thư giới thiệu nhờ vả của người môi giới mà đến gặp soái Nguyễn Bách. Bằng sự giúp đỡ của Bách, bằng ý chí của anh, Khoái đã đi từ chủ nhỏ đến chủ lớn, đi từ điểm lập nghiệp tỉnh nhỏ đến Warszawa. Cố nhiên, nhờ tính cách cởi mở chân thành – một nét tính cách Việt khá đậm đặc nơi mỗi người lưu vong (khác với u trầm, kín đáo của người Hán, người Jopon), Khoái được người bản xứ, gồm cả quan chức và thường dân yêu trọng, hết sức giúp đỡ. Tất cả đã biến trí lự của Khoái từ ý tưởng làm kho cho người Việt thuê chứa hàng chợ đến hiện thực rồi thành công, đưa anh có chân trong hàng ngũ soái.

Trở lên, tôi mới “vẽ” bộ xương của truyện. Da thịt của truyện tươi tắn với những chi tiết hiện thực, những lời thoại của nhân vật đúng là của nó; cùng với các mối quan hệ tình yêu công sở, tình yêu – làm ăn, các mối quan hệ với người bản xứ xấu, bản xứ tốt mà tác giả quen thuộc, thấu hiểu khiến nó sinh động như chính cuộc sống. Đọc Ngụ cư, như được xem một phim tài liệu nghệ thuật về đất nước thu nhỏ mấy chục năm qua. Tôi không nói Ngụ cư hay nhất, nhưng là một tiểu thuyết thành công, nó góp phần tạo cảm giác 2017 là năm mùa văn học bội thu, mập mẩy.