Bài này tìm trên mạng, có ký tên của tác giả Lang Anh.
Những ngày gần đây, báo chí thế giới và Việt Nam lác đác có
những thông tin nhắc đến những mâu thuẫn lẻ tẻ nổ ra tại biên giới Việt
Nam – Campuchia. Đây không phải là một câu chuyện mới mà đã bắt nguồn từ
lâu trong quá khứ.
Những tranh cãi giữa Việt Nam và Campuchia về phần lãnh thổ ngày nay
được gọi là đồng bằng sông Cửu Long (Lãnh thổ chính thức thuộc Việt Nam
hiện đại) và Campuchia khmer krom (theo cách diễn giải của người
Campuchia) từng kéo dài trong nhiều thế kỷ. Về mặt lịch sử, đây là vùng
đất hoang vu gần như không người ở cho đến khi những đoàn khai hoang đầu
tiên của người Việt và người Minh hương (người Trung Quốc bại trận dưới
triều Minh chạy sang Việt Nam lánh nạn và xin thần phục triều đình nhà
Nguyễn) khai phá. Bằng nỗ lực trong nhiều thế kỷ, họ biến một vùng đất
hoang vu, sình lầy thành một khu vực đông đúc và giàu có. Vùng đất này,
được gọi là Nam Kỳ theo cách định danh chính thức của vua Minh Mạng vào
năm 1832. Với sự kiểm soát trên thực tế trong nhiều thế kỷ, đây là vùng
lãnh thổ được công nhận thuộc về Việt Nam theo mọi hiệp ước và bản đồ
quốc tế hiện đại.
Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015
Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015
Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt
Nguyễn Quang Dy
Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra
sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử (vì tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới
phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát
triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường
xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?
Thứ trưởng Lê Mai: “Kiến trúc sư trưởng” quan hệ Việt - Mỹ
Lê Thọ Bình
20 năm trước, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
![]() |
Thứ trưởng Lê Mai (bên phải) và Thượng nghị sĩ John Kerry trả lời các nhà báo sau phiên họp tại Hà Nội tháng 11/1992 - Ảnh: AFP |
20 năm trước, ngày 11/7/1995, Tổng thống
Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt
Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với nền ngoại giao Việt Nam
nói chung và quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng. Kết quả này là sự nỗ
lực của cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, trong đó không thể không nói đến
vai trò của Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai, người được truyền thông Mỹ
đánh giá là một trong những “kiến trúc sư” mối quan hệ Việt - Mỹ.
Người đi tiên phong trong bình thường hóa Việt - Mỹ
Nguyễn Hồng Thạch
(Hiện là Đại sứ Việt Nam tại Iran)
(Hiện là Đại sứ Việt Nam tại Iran)
Những ngày này, Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đang thực hiện chuyến thăm Mỹ lịch sử. Lần đầu tiên người đứng đầu Đảng CSVN thăm Mỹ. Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước có lẽ đến bây giờ mới có thể nói là hoàn thành khi Mỹ công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, thừa nhận vị trí của Đảng CSVN trong nền chính trị của Việt Nam.
Tổng thống Mỹ từ lâu đã đón Tổng Bí thư Đảng Cộng sản (ĐCS) Liên Xô
hay Chủ tịch ĐCS Trung Quốc, nhưng Breznev là trường hợp đặc biệt, là
đại diện của một siêu cường ngang hàng với Mỹ. Còn Chủ tịch Giang Trạch
Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình, bên cạnh chức danh Chủ tịch Đảng, họ còn
là Chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Chỉ có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là
người lãnh đạo ĐCS duy nhất không có chức danh chính quyền được Tổng
thống Mỹ tiếp tại Nhà Trắng. Nhưng phải 20 năm sau khi hai nước bình
thường mới có sự thừa nhận này của Mỹ đối với hệ thống chính trị của
Việt Nam. Mọi việc đều có lý do tồn tại của nó. Hoàn cảnh quốc tế và khu
vực thay đổi là lý do để có sự kiện ngày hôm nay.
Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015
Anh Cơ trong tâm trí riêng tôi
Vũ Khoan
Thế là tiếng nói oang oang, tiếng
cười sảng khoái của anh Trần Quang Cơ đã tắt! Tôi trộm nghĩ mình không nhầm nếu
nói rằng, toàn thể anh chị em cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao, nhất là những
người đã từng cộng sự trực tiếp đều tiếc thương vô hạn vì trong tâm chí mọi người
Anh là một nhà ngoại giao cực kỳ sắc sảo và kiên định, một con người hết sức khảng
khái và tự trọng, một nhà lãnh đạo mẫu mực, công tâm.
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015
CHUYỆN HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Kim Dung
Năm nào cũng vậy, cứ sau ngày
cúng “ông Táo” lên chầu trời, ban lãnh
đạo cơ quan lại tổ chức mời cán bộ hưu trí đến họp mặt cuối năm và có quà mừng
năm mới. Mọi người tập trung tại hội trường, lâu ngày gặp nhau chuyện trò hàn
huyên vui vẻ.
Chị Miên đến sau, đi cùng chồng là
anh Thái. Nhìn anh chị không ai bảo ai chúng tôi đều cất lời khen: “Hai bác
trông đẹp đôi, hạnh phúc quá. Thật là viên mãn”. Được mọi người khen, chị Miên
cảm động lắm, cảm ơn mọi người và nói: “Nhờ có nhà tôi đấy, các bà, các bác
ạ!”.
Tôi nhớ lúc còn đang công tác cùng
chị, có lần chị tâm sự với tôi một chuyện buồn xảy ra cách đây đã gần 40 năm,
khi ấy chị chừng 35, 36 tuổi.
Một buổi trưa hai chị em ăn cơm xong,
nằm nghỉ, chị thủ thỉ với tôi: “ Mình là người con gái quê hương quan họ Bắc
Ninh, Dung à. Năm mình 18 tuổi, có một lần đoàn văn công quân đội về quê mình
biểu diễn văn nghệ phục vụ đơn vị đóng quân ở đó và bà con quanh vùng. Mình và
một vài người bạn rủ nhau đi xem các anh, các chị văn công dựng rạp. Mấy cô bạn
mình khoe với các anh bộ đội: “ Cái Miên
làng em là con gái đẹp nhất vùng này đấy, nó lại hát hay nữa chứ…” Anh Hùng,
trưởng đoàn đứng gần đó nghe được, đến cạnh mình hỏi thăm địa chỉ gia đình. Đợt
biểu diễn xong, anh đến nhà mình chơi và yêu cầu mình hát cho anh nghe vài bài.
Nghe xong anh hỏi:
-
Cô
Miên có thích đi văn công không?
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Lại bàn về dân trí
Nguyễn Quang Dy
Người ta nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân
trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi
“quan trí” lại thấp,cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh), người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”. Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng
một vấn đề. Nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.
Hãy điểm qua vài hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở
đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ xung thêm).
Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những
người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu
bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?
Người ta nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân
trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi
“quan trí” lại thấp,cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh), người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”. Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng
một vấn đề. Nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.
Hãy điểm qua vài hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở
đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ xung thêm).
Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những
người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu
bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?
Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015
NGUYỄN ÁI QUỐC / HỒ CHÍ MINH VỚI NƯỚC ĐỨC
Trần Ngọc Quyên
Năm 2015 Việt Nam và nuốc
Đức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay từ những
năm 20 của thế kỷ trước Nguyễn Ái Quốc đã từng đến nước Đức, gặp gỡ nhiều người
Đức ở cả nước Đức lẫn ở nước ngoài như Paris, Mátxcơva; từ những người dân
thường đến các Lãnh tụ nổi tiếng của Đáng Cộng sản lẫn phong trào công nhân
Đức. Có thể nói Nguyễn Ái Quốc là người đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu
nghị giữa nhân dân Đức và Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Đức chúng tôi xin giới thiệu với Bạn đọc bài dưới đây của một người
đã từng học tập và công tác trên 20 năm ở cả hai miền của nước Đức và đã dày
công sưu tầm các tư liệu về Nguyễn Ái Quốc/Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Đức.
Như chúng ta đều biết, trong
những năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước từ năm 1911 đến
năm 1941 Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh đã từng đến nước Đức để hoạt động cách
mạng bí mật, đó là vào các năm 1923 và 1927/28. Năm 1957 với tư cách Chủ tịch
Đảng Lao động Việt Nam - Chủ tịch nước VNDCCH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm
chính thức CHDC Đức.
Hoạt động
bí mật tại nước Đức trong những năm 20 của thế kỷ XX
Thật ra trước năm 1923 Người cũng đã 2 lần đến Đức: lần đầu khoảng cuối tháng 10 năm 1919 cùng với Luật sư Phan
Văn Trường trong đó có việc liên hệ mua vật tư ngành ảnh của hãng AGFA cho hiệu
ảnh Khánh Ký khi Người làm thuê cho hiệu ảnh này (AGFA là công ty con của tập
đoàn Bayer AG ở Leverkusen ở Tây Đức). Lần
thứ hai Nguyễn Ái Quốc đến Đức năm 1920 khi Người tham gia đoàn du lịch của
Hội du lịch Pháp. Như vậy có thể nói lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đặt chân lên
nước Đức là năm 1919 và những người Đức đầu tiên Người giao dịch khi làm thuê
cho hiệu ảnh Khánh Ký là các nhân viên Đại diện cho công ty AGFA của Đức tại
Paris.
Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015
Hệ quả chiến tranh.
Nguyễn Quang Dy
Nguyên cán bộ Ngoại giao, tốt nghiệp Harvard năm 1993
Bài đã đăng trên Viet-studies 30/4 (bản tiếng Việt, bản tiếng Anh cũng của tác giả).
“Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, nên cơ chế bảo vệ hòa bình phải được xây
dựng ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)
Câu chuyện hòa giải
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, với độc tài và tham nhũng.
Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam cũng đã hòa giải được với nhau, bình thường
hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, tuy bóng ma chiến tranh
Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước. Ngày nay, hai nước thậm
chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lượctoàn diện, trướcsự trỗi dậy đầy thách thức của
Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.
Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải, vẫn còn đối xử với nhau như “kẻ thù”. Có
lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải mất 50 năm
mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (kết thúctạiGettysburgnăm 1863). Liệu người Việt
phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam làm sao đủ
mạnh để bảo vệđộc lập và chủ quyền của mìnhkhỏi nguy cơ bắc thuộc?
Nguyên cán bộ Ngoại giao, tốt nghiệp Harvard năm 1993
Bài đã đăng trên Viet-studies 30/4 (bản tiếng Việt, bản tiếng Anh cũng của tác giả).
“Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, nên cơ chế bảo vệ hòa bình phải được xây
dựng ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)
Câu chuyện hòa giải
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, với độc tài và tham nhũng.
Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam cũng đã hòa giải được với nhau, bình thường
hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, tuy bóng ma chiến tranh
Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước. Ngày nay, hai nước thậm
chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lượctoàn diện, trướcsự trỗi dậy đầy thách thức của
Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.
Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải, vẫn còn đối xử với nhau như “kẻ thù”. Có
lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải mất 50 năm
mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (kết thúctạiGettysburgnăm 1863). Liệu người Việt
phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam làm sao đủ
mạnh để bảo vệđộc lập và chủ quyền của mìnhkhỏi nguy cơ bắc thuộc?
Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015
Những kỷ niệm không phai mờ
Nguyễn Đình Bin
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UBVNVNONN.
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII
Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm UBVNVNONN.
Trong hơn bốn mươi năm công tác
tại ngành ngoại giao, một trong những vinh hạnh lớn nhất của tôi là đã được kề
vai sát cánh với đội ngũ cán bộ, nhân viên UBVNVNONN, cơ quan tham mưu và quản
lý của Đảng và Nhà nước ta về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài, trên cương vị là người đứng đầu,
trong giai đoạn rất đáng ghi nhớ: 4 năm mở màn thiên niên kỷ thứ ba (2000 -
2003).
Bốn năm là một quãng thời gian
không dài trên chặng đường nửa thế kỷ từ khi ra đời đến nay của Ban VK TƯ, rồi
UBVNVNONN và nay là UBNNVNVNONN, nhưng
đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể phai mờ và bài học quý. Đó là những năm tháng công cuộc đổi mới toàn
diện của nhân dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được
triển khai mạnh mẽ và toàn diện, giữa
một thế giới đang biến động sâu sắc, đan xen những thời cơ lớn với thách thức
cũng lớn. Trên bình diện chủ quan thì UBVNVNONN, qua 40 năm hoạt động và phát triển và sau 4 năm Thủ tướng Chính phủ quyết
định sát nhập vào Bộ Ngọai giao, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và có thêm điều kiện để có những
bước phát triển mới về chất.
Hôm nay, nhìn lại quãng thời gian
ấy, tôi vui mừng là đã cùng tập thể cán bộ nhân viên UBVNVNONN tăng cường đoàn
kết, không ngừng phấn đấu vươn lên, kế thừa và phát huy được những kinh nghiêm quý báu của các lớp anh, chị đi
trước, đồng thời đã tự đổi mới được mình, trước hết là đổi mới tư duy, phát huy
mạnh mẽ bản lĩnh, tinh thần chủ động, tiến công, dám chịu trách nhiệm, đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ tham mưu và quản lý mà Đảng và Nhà nước giao phó trên lĩnh
vực công tác này, có những đóng góp xứng đáng vào các thành tích đáng tự hào
trong 50 năm phát triển của UBNNVNVNONN.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)